Chứng tỏ quan điểm của nhà văn Kim Lân trong Vợ nhặt

0
88

Đề bài: Nhà văn Kim Lân đã nói về truyện ngắn “Vợ nhặt”: “Những người đói họ không nghĩ đến cái chết mà nghĩ đến cái sống”. Hãy chứng tỏ điều này qua các nhân vật của “Vợ nhặt”.

Mở bài: Chứng tỏ quan điểm của nhà văn Kim Lân trong Vợ nhặt

Vợ nhặt là một trong những tác phẩm đặc sắc của nhà văn Kim Lân và cũng là một trong những thành tựu xuất sắc của nền văn học cách mạng. Tác phẩm viết về một giai đoạn đau thương trong lịch sử dân tộc, nạn đói 1945 từ Quảng Trị đến Bắc Bộ hơn hai triệu đồng bào chết đói, thế nhưng niềm tin của con người không bao giờ tắt. Trong tác phẩm niềm tin ấy được thể hiện ở chỗ: Những người đói họ không nghĩ đến cái chết, mà nghĩ đến cái sống.

Thân bài: Chứng tỏ quan điểm của nhà văn Kim Lân trong Vợ nhặt

Như nhiều tác phẩm trước đó viết về nạn đói, ngòi bút Kim Lân chứa chan thương cảm trước những số phận lương thiện và cùng khổ. Ông không dành nhiều trang viết mô tả kỹ hiện thực tàn khốc lúc bấy giờ mà chủ tâm thể hiện vẻ đẹp tinh thần ẩn giấu sau bề ngoài xơ xác vì đói khát của họ. Đó là bữa cơm cưới của đôi vợ chồng trẻ và người mẹ già chỉ có cháo loãng muối hột nhưng ăn ngon lành, trong hồi trống thúc thuế. Ba mẹ con vừa ăn cơm vừa bàn chuyện Việt Minh phá kho thóc Nhật chia cho dân nghèo “trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới”.

chung to quan diem cua nha van kim lan trong vo nhat 1

Ngay từ đầu câu chuyện đã hiện lên được màu sắc tang thương, từ khí “Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào. Những gia đình từ các vùng Nam Định, Thái Bình đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Thực là không còn gì ảm đạm hơn bức tranh quê ấy. Trong khi trước đó không lâu mỗi chiều Tràng đi làm về, cái xóm ngụ cư tồi tàn ấy lại xôn xao lên được một lúc. Còn bây giờ cái đói đã đè nặng lên vai mỗi người, ngay cả bọn trẻ – những đứa trẻ hồn nhiên, vô tư nhất cũng mất đi sự tự nhiên, ngây thơ của mình, chúng ủ rũ, không buồn nhúc nhích.

Giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói khát ấy, một buổi chiều, người trong xóm bỗng thấy Tràng về với một người đàn bà nữa. Tràng dẫn người đàn bà này về làm vợ, xây dựng gia đình, sinh con đẻ cái để tiếp nối sự sống. Giọng văn thật dồn nén và gây cảm xúc mạnh, mộc mạc mà lôi cuốn “Mặt hắn có vẻ gì phởn phơ khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh. Đọc đến đây tư không thể không nghĩ đến những trang bi kịch của Shakespeare, Molie hay Xtangdan. Tuy nhiên bi kịch ở đây đã vượt lên sự thông thường vốn có. Nó cũng không phải là hiện thân của sự ngu dốt như Mác nói mà trở nên cao cả, đẹp tươi lạ thường. Đó là biểu hiện cao nhất của sự chiến thắng vượt lên trên thực tại chết chóc đen tối để hướng tới sự sống, niềm tin ánh sáng. Với chi tiết Tràng cùng vợ đi về nhà, chủ nghĩa nhân đạo trong văn học nước nhà cũng có thêm một tiếng nói mới, một sức mạnh mới.

Chuyện lấy vợ của Tràng trước hết là một chuyện lạ mà thú vị. Điều ấy đã khiến người dân trong xóm ngụ cư hết sức tò mò, từ bọn trẻ đến tất cả làng “họ bàn tán, họ hiểu đôi phần, khuôn mặt họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên”. Từ trong sâu thẳm tâm hồn những người dân làng le lói lên một chút niềm vui. Họ thú vị nghĩ tới chuyện Tràng có vợ. Có thể nói trong phút chốc, khi Tràng cùng cô vợ nhặt đi về làng, cái chết, sự ảm đạm thâm u nơi xóm ngụ cư được đẩy sang một bên. Xóm ngụ cư đang ở bên miệng vực cái chết bỗng hé lên một hy vọng sống.

Nhưng niềm vui vừa đến, đã phải nhường chỗ cho sự lo âu. Dân làng  lo thay cho Tràng: “Giời đất này còn rước cái của nợ. Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thời này không”. Tuy nhiên, đó không phải là nỗi lo tuyệt vọng, mà lo cho cái sống. Sự chết chóc cứ ám ảnh, đe dọa sự sống nhưng sự sống vẫn vượt lên cái chết. Khuôn mặt “rạng rỡ” của người dân làng, ánh mắt của họ đã nói lên điều đó.

Ở bước đường cùng, người ta sinh ra liều lĩnh. Điều đó thực đúng lắm thay! Hành động nhân đùa làm thật của cô gái theo chân Tràng về nhà, xét đến cùng, là một hành động liều lĩnh. Tràng gặp người đàn bà ấy tất cả chỉ có hai lần vào các dịp chở thóc lên tỉnh. Với Tràng, chị ta chẳng để lại trong anh một ấn tượng gì bởi thể lần thứ hai gặp lại Tràng phải mất một lúc mới nhận ra. Cũng như nhiều nhân vật khác trong các sáng tác của Nam Cao, cái dạn dày của chị đã chiến thắng khối óc và con tim. Được Tràng đãi, chị ăn liền một chặp bốn bát bánh đúc. Cái đói đã đẩy lùi ý thức nhân cách, sĩ diện. Quên cả thẹn thùng, người đàn bà không tên ấy cắm đầu ăn không chuyện trò gì. Khi Tràng ngỏ lời, không cần suy nghĩ, chị đi theo một cách dễ dàng. Thế mới hay cái đói ghê gớm biết chừng nào và hai cái liều gặp nhau đã tạo nên một gia đình thời tao loạn. Điều đáng chú ý là ở đây, khi cùng người vợ nhặt về nhà, Tràng bỏ ra hai hào đê mua chai dầu. Điều này có nghĩa là anh đã thắp lên một ngọn lửa trong cuộc sống tối tăm của mình, đem lại chút ánh sáng cho gia đình cũng như dân làng. Cũng từ cuộc hôn nhân của Tràng, những người đói mới thực sự không nghĩ đến cái chết mà nghĩ đến cái sống.

chung to quan diem cua nha van kim lan trong vo nhat 2

Khi Tràng cùng vợ về nhà, cuộc sống trước mắt họ không kém phần thảm hại: Căn nhà vắng teo, rúm ró, niêu bát áo sống bừa bộn. Ôi lấy vợ cưới chồng, yên bề gia thất việc lớn một đời, hạnh phúc trăm năm vậy mà họ bị bủa vây bởi sự nghèo đói, chết chóc. Nhưng sự sống là bất diệt, họ vẫn có một niềm tin vào tương lai. Trong cái chết, sự sống vẫn tồn tại, tìm chỗ sinh sôi, nảy nở. Tất cả thật dữ dội mà ý nghĩa thật lớn lao, sự sống luôn tồn tại bất chấp cái chết.

Việc hai người xa lạ bỗng gắn bó với nhau trong cơn đói kém chứng tỏ quyết tâm nghĩ đến cái sống của hai người. Điều đó đem lại cho họ trước trước hết là Tràng một niềm vui lớn lao. Trong truyện ngắn, hơn hai mươi lần nhà văn nhắc đến niềm vui với nụ cười thường trực của Tràng khi đã có vợ. Tình yêu của hai người có sức cải biến thật lớn. Chỉ sau một đêm nên vợ nên chồng, Tràng thấy mình có sự đổi khác: “Trong người êm ái lơ lửng như người ở trong giấc mơ đi ra. Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ như không phải”. Chuyện nhặt được vợ của Tràng ngỡ như đùa nhưng lại là sự thật. Bao nhiêu sự sống, sinh khí trở lại với Tràng sau khi anh có vợ. Và cũng từ buổi sáng hôm sau đó tất cả sự chết chóc dường như không tồn tại nữa. “Tràng chỉ nghĩ đến sự gây dựng cuộc sống, hướng về sự sống mà tạo lập hạnh phúc: Tràng thấy yêu thương gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đây. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa, che nắng. Một nguồn vui sướng phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo cho vợ con sau này”.

Có thể nói đó là biểu hiện cao nhất của tinh thần hướng về sự sống, quên đi cái chết đang bủa vây.

Vợ Tràng là một nhân vật độc đáo. Chị không có tên, không có tuổi, không đặc điểm nhận dạng và quê quán. Tưởng rằng khi chị theo Tràng đi về nhà với sự chao chát, chỏng lỏn, văn học Việt Nam lại có thêm một nhân vật “không bình thường”. Nhưng ngòi bút Kim Lân không để nhân vật của mình tha hóa, biến chất đến độ ấy. Khi về đến nhà Tràng, con người thật trong chị mới hiện lên đầy đủ. Chị cứ ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng. Cái tư thế ngồi rụt rè chông chênh ấy cũng là tư thế của lòng chị, trăm mối ngổn ngang. Liệu chỗ ngồi ấy có phải là chỗ của chị không? Nhà này có phải là chống để dung thân? Đó là biểu hiện rất nữ tính của một người phụ nữ biết lễ phép trong ứng xử.

Và cũng như Tràng, sau một đêm làm vợ chị đã thay đổi hẳn. Trông chị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực. Khi được sống trong tình thương thì bản chất hiền hậu trở lại với chị. Ấy cũng là lúc chị nghĩ đến sự sống, lo cho gia đình mình. Chị quét dọn sân nhà sạch sẽ, gánh nước đổ đầy ang. Có bàn tay săn sóc của chị, căn nhà trở nên gọn gàng, sáng sủa. Sự sống thực sự đã trở về với người, với cảnh.

Bà cụ Tứ càng đẻ lại cho người đọc những ấn tượng và tình cảm tốt đẹp. Thấy con lấy vợ trong hoàn cảnh khó khăn, bà không khỏi bùi ngùi thương xót: “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi những mong sinh con đẻ cái, mở mày mở mặt sau này còn mình thì…”. Nhưng bà thực sự vui mừng khi con trai bà đã yên bề gia thất: “Bà mẹ Tràng cũng nhạ nhõm tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên”. Rồi trong bữa cơm, cả ba mẹ con đều quên đi hiện thực đau lòng để hướng với một tương lai đẹp hơn: “Tràng ạ. Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà. Tao tin rằng cái chỗ đầu bếp kia làm chuồng gà thì tiện quá. Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem…”.

Nghĩ đến cái sống, không nghĩ đến cái chết là ở chỗ đó. Bà đã cố gắng xua đi thực tại hãi hùng để nhen nhóm niềm tin vào cuộc sống cho các con. Tuy nhiên, món chè cám đã nhắc họ trở về thực tại, một thực tại nghiệt ngã. Cuộc sống khắc nghiệt đầy đọa dồn họ vào chỗ chết nhưng nào có dập tắt được những hi vọng và khát khao sống đáng quý trong mooig người.

Sẽ là thiếu sót nếu bỏ qua hình ảnh những người nông dân trên đê Sộp cùng nhau đi phá kho thóc với là cờ đỏ thắm khi nói đến những kẻ hấp hối trong vòng từ địa vẫn hướng tới cuộc sống. Đó là hình ảnh không hề ngẫu nhiên chút nào mà được nhà văn chuẩn bị từ trước. Đó là dấu hiệu của bước đường cùng, không còn cách giành sự sống nào khác, phải vùng dậy đấu tranh hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn. Tràng thấy ân hận, tiếc rẻ ngẩn ngơ, khó hiểu bởi anh chưa bắt được mạch nguồn cách mạng. Trước mắt người đọc lúc này sự sống trở thành mục đích chung của mọi người, họ đấu tranh đoạn tuyệt dứt khoát với cái chết. Và chắc chắn mẹ con Tràng sẽ tiếp nối dòng người kia giành sự sống cho mình.

Kết luận: Chứng tỏ quan điểm của nhà văn Kim Lân trong Vợ nhặt

Bằng nghệ thuật xây dựng tình huống truyện và miêu tả tâm lí nhân vật độc đáo, Kim Lân đã đem đến một chủ đề mới trong nạn đói. Nhà văn khẳng định ánh sáng của tình người và niềm tin vào cuộc sống có một sức mạnh kỳ diệu giúp người ta vượt qua tất cả những khắc nghiệt của cuộc sống. Ông đã đóng góp cho văn học Việt Nam nói chung, về đề tài nạn đói nói riêng một quan niệm mới về tình người. Đó chính là điểm sáng sẽ còn đọng lại mãi trong lòng người đọc của thiên truyện này.

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here