Quá trình thụ thai diễn ra như thế nào?

0
93

Điều kiện diễn ra quá trình thụ thai

Khi nam giới đến tuổi dậy thì, hai bên tinh hoàn dần phát triển hoàn thiện. Trong tinh hoàn có rất nhiều ống nhỏ, thành ống có vô số tinh bào cấp một. Loại tế bào này có hình tròn, 23 cặp nhiễm sắc thể.

Trong đó có 22 cặp là nhiễm sắc thể thường, phụ trách truyền tải thông tin di truyền, như quyết định chiều cao, ngoại hình, nhóm máu, màu da, mống mắt (màu mắt), màu tóc… của thế hệ sau; cặp nhiễm sắc thể còn lại gọi là nhiễm sắc thể giới tính. Hai nhiễm sắc thể giới tính của đàn ông không giống nhau, kí hiệu là X, Y. Khi quan sát bằng kính hiển vi, kích cỡ của X khá to, Y khá nhỏ.

Tinh bào cấp một phát triển đến một mức nhất định, từ một tinh bào chia ra hai tinh bào cấp hai, nhiễm sắc thể của tinh bào vẫn là 23 cặp nhiễm sắc thể đó. Bước tiếp theo, tinh bào cấp hai lại chia đôi 23 cặp nhiễm sắc thể, mỗi tế bào có 23 nhiễm sắc thể, trong đó có 22 nhiễm sắc thể thường, một nhiễm sắc thể còn lại là nhiễm sắc thể giới tính. Tính ra, một tinh bào cấp một biến thành bốn tinh trùng, trong đó hai chứa X, hai chứa Y.

Quá trình này cần khoảng 50 ngày.

Một người đàn ông khỏe mạnh mỗi lần xuất khoảng từ 2 đến 5 ml tinh dịch, mỗi ml chứa khoảng 60 triệu tinh trùng. Trong cả cuộc đời mình, đàn ông có thể sản sinh một nghìn tỷ tinh trùng lên. Số lượng tinh trùng chứa nhiễm sắc thể X, Y bằng nhau, chiếm một nửa tổng số tinh trùng, khả năng này có thể duy trì liên tục đến năm 80 – 90 tuổi.

Tinh trùng dài khoảng 0,06mm, đầu hình bầu dục, đuôi thuôn nhỏ, giúp làm giảm lực cản khi có di chuyển về phía trước. Phần đầu chứa 23 nhiễm sắc thể đã nói ở trên, đoạn giữa hay gọi là phần cổ là nơi chứa nguồn năng lượng của nó, giống bộ phận nhiên liệu của hỏa tiễn; đuôi tinh trùng nhỏ và dài giúp tinh trùng dễ dàng chuyển động.

Khi xuất tinh, hàng trăm triệu tinh trùng theo tinh dịch vào sâu trong âm đạo người phụ nữ (vòm âm đạo), lúc này tinh trùng cố hết sức chuyển động, tranh nhau bơi về phía cổ tử cung và khoang tử cung. Khi trứng rụng, dịch nhầy cổ tử cung chịu tác động của hoóc- môn estrogen, cổ tử cung giãn to, rất ít dịch nhầy và có độ pH thích hợp giúp tinh trùng dễ dàng tiến vào. Khi phụ nữ lên đỉnh sẽ làm khoang tử cung co lại tạo ra áp suất thấp, có tác dụng hỗ trợ tinh trùng tiến vào tử cung.

Trong điều kiện phù hợp, mỗi phút tinh trùng có thể di chuyển từ 2mm đến 3mm. Tổng khoảng cách từ cổng tử cung đến đoạn bóng ống dẫn trứng (nơi trứng thụ tinh) chừng 20cm, chỉ có 50 – 200 tinh trùng khỏe mạnh đến được đó trong số hàng trăm triệu tinh trùng. Tinh trùng có thể sống ở cổ tử cung năm ngày sau khi quan hệ. Nhưng 48 tiếng sau khi xuất tinh, nó sẽ dần lão hóa, khó kết hợp với trứng.

Phía sau hai bên tử cung có hai ống dẫn trứng, khi đến tuổi dậy thì, buồng trứng dần hoàn thiện, có thể sinh ra những trứng chín. Trứng là tế bào có thể tích lớn nhất trong hơn một trăm loại tế bào trong cơ’ thể người với đường kính 0,2mm, nhỏ hơn hạt gạo rất nhiều. Trứng chứa 22 nhiễm sắc thể thường và một nhiễm sắc thể giới tính X.

Phụ nữ tuổi dậy thì đến khi mãn tính, ước tính cứ bốn tuần rụng trứng một lần, mỗi lần rụng một trứng (thông thường hai ống dẫn trứng lần lượt rụng, trong tình trạng đặc thù có thể rụng nhiều hơn một quả, nếu thụ tinh sẽ thành đa thai). Trong suốt cuộc đời mình, phụ nữ rụng khoảng 300 – 400 trứng. Sau khi mãn kinh trứng sẽ không rụng nữa, do đó rất ít phụ nữ trên 50 tuổi có thể tiếp tục mang thai.

Khi rụng, trứng sẽ chảy theo dịch noãn bào, lúc này dưới tác dụng của hoóc-môn estrogen, cổng ống dẫn trứng (đoạn loa) sẽ có hiện tượng nhu động mạnh, lao tới bề mặt buồng trứng “đón bắt” trứng. Vì từ loa ống dẫn trứng đến mặt buồng trứng có một khoảng cách nhất định, hơn nữa sự “đón bắt” trứng chỉ là “bắt bừa”, do đó không thực sự chuẩn xác. Có khi có thể bắt được trứng vào ống dẫn trứng (từ khi rụng đến khi bị bắt khoảng mười phút), cũng có khi xảy ra sai sót, trứng rải xuống khoang bụng và thoái hóa đồng thời nhanh chóng bị hút vào màng bụng. Nếu loa ống dẫn trứng bắt được trứng và chuyển nó đến đoạn bóng ống dẫn trứng, một trong vô số tinh trùng sẽ xuyên thủng lớp vỏ trứng, trứng ngay lập tức làm lớp vỏ kiên cố lại khiến các tinh trùng khác không thể xâm nhập. Quá trình này gọi là “thụ tinh”. Thông thường, 24 tiếng sau khi trứng rụng rất khó tiếp tục kết hợp với tinh trùng.

Nhiễm sắc thể ở đầu tinh trùng và trứng xếp thành tổ hợp trong hợp tử.

“Trong anh có em, trong em có anh”, sau đó nhanh chóng phân chia, một thành hai, hai thành bốn… trở thành một nhóm tế bào, ống dẫn trứng chuyển nhóm tế bào này đến khoang tử cung, bám vào niêm mạc tử cung gọi là “làm tổ”. Từ thụ tinh đến khi làm tổ mất khoảng bảy ngày, hợp tử không ngừng nhân lên, phân hóa thành các tổ chức, cơ quan, “mang thai 10 tháng, một ngày sinh con”, một đứa trẻ sơ sinh đã oa oa cất tiếng khóc chào đời.

Phần trước chúng ta đã nói nhiễm sắc thể giới tính của tinh trùng chứa X hoặc Y, trong khi nhiễm sắc thể giới tính của trứng chỉ chứa X, do đó tinh trùng chứa X kết hợp với trứng, nhiễm sắc thể giới tính của hợp tử là XX:, tức là con gái. Nếu tinh trùng chứa Y kết hợp với trứng, nhiễm sắc thể giới tính của hợp tử là XY, tức là con trai. Như vậy có nghĩa là sinh con trai hay con gái quyết định bởi tinh trùng chứ không phải trứng.

Rụng trứng ở phụ nữ trước khi bắt đầu quá trình thụ thai

Phụ nữ từ 13 – 14 tuổi buồng trứng phát triển hoàn thiện và bắt đầu rụng trứng. Thông thường, mỗi tháng nó rụng một trứng chín. Nếu trứng này kết hợp với tinh trùng sẽ trở thành hợp tử, nếu hợp tử làm tổ trong tử cung sẽ phát triển thành thai nhi. Nếu trứng không thụ tinh sẽ theo máu kinh ra ngoài cơ thể. Đến kỳ kinh sau, buồng trứng sẽ lại rụng một trứng chín. Kích cỡ của trứng khoảng 0,2mm, có thể coi là tế bào lớn nhất trong cơ thể người.

Gợi ý:

Tuy buồng trứng cách ống dẫn trứng rất gần, nhưng không trực tiếp nối liền với ống dẫn trứng. Sau khi trứng rụng có thể trực tiếp rơi vào ống dẫn trứng cũng có thể rơi xuống khoang bụng rồi mới vào ống dẫn trứng.

Dien bien qua trinh thu thai

Quá trình thụ thai

Trứng trong cơ thể phụ nữ kết hợp với tinh trùng ở đoạn bóng ống dẫn trứng, cũng chính là quá trình thụ tinh. Hợp tử dần dần di chuyển về phía tử cung, mất bốn đến năm ngày mới đến khoang tử cung.

Lúc này hợp tử tiết ra enzyme phân hủy protein, có tác dụng làm vỡ niêm mạc tử cung, tạo một lỗ hổng trên bề mặt niêm mạc tử cung đồng thời dần dần ăn mòn và bám dính vào lớp trong niêm mạc, còn lỗ hổng trên niêm mạc nhanh chóng liền lại, bao bọc hợp tử trong niêm mạc tử cung, đây chính là quá trình làm tổ của hợp tử. Lúc này ước tính dã khoảng một tuần sau khi thụ tinh (7-8 ngày), đây cũng chính là quá trình hình thành phôi nang. Phôi nang làm tổ xong nhanh chóng phát triển, đến cuối tháng thứ nhất, phôi thai đã dài khoảng 5mm.

Căn cứ phán đoán quá trình thụ thai thành công

1. Chậm chu kỳ kinh nguyệt

Nếu kinh nguyệt chậm 10 ngày trở lên, bạn có thể đã mang thai. Nhưng chu kỳ kinh nguyệt do hệ thần kinh nội tiết phức tạp điều khiển, trong đó bao gồm trung khu thần kinh, tuyến yên, buồng trứng và tử cung, bất kỳ khâu nào bị tác động hoặc bị bệnh, đều có thể ảnh hưởng đến chu kỳ kinh nguyệt. Do đó, khi chu kỳ kinh nguyệt bị chậm, cách phán đoán có thai tốt nhất là đến bệnh viện kiểm tra.

2. Nôn, buồn nôn, nhu cầu ăn uống thất thường

Mất kinh khi đến tháng, thường xuyên xuất hiện triệu chứng buồn nôn, nôn nước trong, đó là căn cứ quan trọng để phán đoán có thai giai đoạn đầu. Ngoài ra, có thể có các biểu hiện khác như ăn không ngon miệng, nhu cầu ăn uống thất thường…

3. Sự biến đổi của bầu ngực

Ngực cương lên, đầu nhũ chạm vào là đau, đây là biển hiện đầu tiên phát sinh dưới tác dụng của hoóc-môn progestogen và estrogen của buồng trứng. Nhưng đây không phải là căn cứ mang thai thực sự đáng tin cậy.

4. Trướng phần giữa bụng dưới

Trong hai tháng đầu mang thai, do tử cung to ra nên thường có cảm giác phần giữa bụng dưới bị trướng.

5. Thường xuyên đi tiểu nước trong

Nêu quá chu kỳ mà không thấy kinh nguyệt, thường xuyên muốn đi tiểu, nước tiểu trong, khả năng mang thai cũng rất lớn.

6. Tích tụ sắc tố da

Ngoài màu của đầu nhũ và quầng thâm hơn, nếu trên vùng má hai bên mũi xuất hiện vệt màu nâu, ở giữa âm vật và rốn hiện lên một đường thẳng mảnh màu nâu, đó chắc chắn là biểu hiện của thai nghén. Trên mặt gọi là đốm thai nghén, ở bụng dưới gọi là đường nâu thai nghén.

Dien bien cua qua trinh thu thai

Cách phán đoán mang thai sau quá trình thụ thai

Đôi khi, việc xác định mang thai không hề đơn giản, nhất là trong sáu tuần đầu tiên, vì một số đặc trưng vẫn chưa rõ ràng nên ngay cả bác sĩ khoa sản giàu kinh nghiệm cũng cần sự hỗ trợ của một số tiêu chí khách quan mới có thể đưa ra kết luận.

1. Nhiệt độ gốc

Nhiệt độ gốc sau khi trứng rụng cao hơn trước khi trứng rụng, lên khoảng 0,5°C, đồng thời duy trì liên tục từ 12 – 14 ngày, cho đến trước khi có kinh một đến hai ngày hoặc ngày kinh đầu tiên mới hạ nhiệt.

Nếu liên tục đo ba, bốn ngày có thể phán đoán đã mang thai hay chua.

2. Dịch nhầy cổ tử cung

Phụ nữ sau khi mang thai, “hoàng thể kinh nguyệt” của buồng trứng không những không teo lại mà còn phát triển thành “hoàng thể thai nghén”, và tiết ra một lượng lớn hoóc-môn progestogen. Vì vậy, khi làm xét nghiệm kính phết, dịch nhầy cổ tử cung có rất nhiều khối hình bầu dục xếp thành hàng. Bác sĩ thấy nhiều khối bầu dục như vậy có thể xác định đây là hiện tượng thai nghén.

3. Khám phụ khoa

Trong thời gian mang thai, hệ sinh dục, đặc biệt là tử cung có những biến đổi rất rõ ràng. Khám phụ khoa sau khi qua kỳ kinh vài ngày, nêu phát hiện thành âm dạo và cổ tử cung sung huyết, mềm đi, có màu xanh tím; nơi giao giữa cổ tử cung và khoang trên tử cung mềm đi rõ rệt, khiến chúng dường như tách rời nhau, tử cung mềm hơn, to hơn, hai đầu cổ tử cung rộng ra và biến thành hình cầu, đồng thời chạm vào tử cung gây ra co rút thì có thể xác định đã mang thai.

4. Thử nghiệm hoóc-môn progesterone (do hoàng thể tiết ra)

Mỗi ngày tiêm vào cơ bắp người thử nghiệm hoóc-môn progesterone (hoóc môn trợ thai từ 10-20mg), dùng liên tiếp từ ba đến năm ngày, nếu sau khi ngừng thuốc bảy ngày không thấy âm đạo chảy máu tức là kết quả dương tính, về cơ bản có thể xác định đã mang thai.

5. Kiểm tra bằng máy siêu âm B

Nếu năm tuần dùng máy siêu âm B kiểm tra, trên màn hình có thể thấy túi thai. Khi được bảy đến tám tuần sẽ xuất hiện nhịp đập tim thai.

6. Xét nghiệm thai nghén

Xét nghiệm thai nghén chính là kiểm tra trong máu hoặc nước tiểu cơ thể mẹ có hoóc- môn kích thích màng đệm HCG (human chorionic gonadotropin) hay không, nếu có cho thất trong cơ thể đang tồn tại lá nuôi phôi thai, như vậy có thể xác định đã mang thai.

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here